Di tích đền thờ Nguyễn Văn Trình

 

Xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Trước thuộc làng Kiệt Thạch, tổng Đậu Liêu, huyện Thiên Lộc, nay là xã Thanh Lộc.

    Đền thờ Nguyễn Văn Trình đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 412QĐ/UB-VX ngày 14/3/2005. Ngày 18/11/2015, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 4008/QĐ-BVHTTDL xếp hạng Đền thờ Nguyễn Văn Trình là di tích lịch sử Quốc gia.

Làng Kiệt Thạch là một vùng địa linh nhân kiệt, có nhiều người học hành đỗ đạt cao trong các triều đại trước, đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 9 và 24 và vua Lê Tương Dực niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 có đến 3 vị đỗ Đại khoa, đó là Tiến sĩ Hoàng Hiền, Hoàng giáp Nguyễn Cung và Tiến sĩ Thái Kính, có thể coi các vị ấy như những người khai khoa cho đất học làng quê này, vì vậy có câu ca: “Kiệt Thạch, tam khoa, tam Tiến sĩ”. Tiếp đến có hai anh em ruột đỗ đại khoa là Nguyễn Văn Trình đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898) và Nguyễn Quýnh đỗ Phó bảng khoa Canh Tuất (1910), là những người kế khoa tiếp bước truyền thống cha ông và quê hương xứ sở.

Nguyễn Văn Trình sinh năm Nhâm Thìn (1872) trong một gia đình khoa bảng. Thân sinh là ông Nguyễn Liên, đỗ Cử nhân năm 1848, từng trải qua các chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Phủ doãn phủ Thừa Thiên, Đốc học tỉnh Quảng Nam. Nguyễn Văn Trình là người có tư chất thông minh, lại chịu khó nên học hành rất tiến bộ, 8 tuổi ông đã biết ứng đối trôi chảy. Có giai thoại kể lại rằng, một hôm thầy giáo tức cảnh ra đề “Bà Hơn bán gạo kém”, trong lúc các bạn học đang ngơ ngác tìm vế đối, ông đã đọc ngay “Ông Tỉnh uống rượu say”, vế đối thật chỉnh ai cũng khen. Năm 1885, Kinh thành Huế thất thủ vua Hàm Nghi xuất bôn kêu gọi chống Pháp dưới danh nghĩa Cần vương. Ông Nguyễn Liên ứng nghĩa Cần vương đứng đầu quân thứ Can Lộc, đã vận động trai tráng và nhân dân trong làng đứng lên đánh giặc, anh ruột của Nguyễn Văn Trình là Nguyễn Lương Cận mới đậu Cử nhân tham gia nghĩa quân và được phong làm “Bang biện Quân vụ”. Trong trận tấn công vào thành Hà Tĩnh của nghĩa quân Cần vương, Nguyễn Lương Cận hy sinh. Vì vậy gia đình Nguyễn Văn Trình phải trốn tránh sự truy lùng của bọn giặc, cho nên đã gián đoạn việc học hành của ông.

Sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ trên khắp nước ta vào những năm cuối thế kỷ XIX. Phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta tạm lắng xuống, thì việc học hành của ông Nguyễn Văn Trình mới được tiếp tục. Năm 1894 ông đậu Tú tài tại trường thi Nghệ An, năm 1897 đậu Cử nhân tại Huế. Năm 1898 Thành Thái năm thứ 10, ông thi đậu Tiến sĩ khoa Mậu Tuất. Sau khi thi đậu, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình được bổ làm Tri phủ Hưng Nguyên,  sau đó là Anh Sơn. Thực dân Pháp và Nam triều tưởng dùng uy tín và tài năng của ông để phục vụ công cuộc bảo hộ của chúng ở các phủ lớn của tỉnh Nghệ An. Nhưng chúng đã nhầm, Tri phủ Nguyễn Văn Trình đã luôn bênh vực quyền lợi cho nhân dân, chống lại sự đàn áp hà khắc của chúng. Chán cảnh làm quan nô lệ ông đã cáo quan về quê, nhưng với uy tín và tài năng, triều đình Huế không thể không dùng. Vì vậy ông được gọi về Huế làm Đốc học phủ Thừa Thiên, Tế tửu Quốc tử Giám. Sau một thời gian, do danh vọng và uy tín, ông được bổ chức Tả Thị Lang bộ Hình, nghiên cứu và xét xử các vụ án lớn. Đến lúc bọn chúng giao cho ông xử án vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp, ông từ chối thẳng thừng và bị đổi vào Phú Yên làm Bố chánh. Tại đây, Bố chánh Nguyễn Văn Trình đã đứng về phía nhân dân địa phương trong phong trào xin sưu, chống thuế, cho nên bị thực dân Pháp khép vào tội thông đồng với dân, bị buộc thôi việc và giáng chức. Nhưng triều đình Huế vẫn nể trọng tài đức của ông, cho nên đưa ông về Quốc sử Quán trong ban Toản tu. Thời gian này, ông đã viết một số sách về lịch sử nước nhà như “Nam Quốc vĩ nhân”,“Hồng Lam thắng cảnh”,“Tục ngữ dân ca”,…Năm 1928 sau 30 năm trên con đường hoạn lộ gập ghềnh thăng giáng nhiều lần, ông xin nghỉ hưu và được triều đình Huế thăng chức Lễ bộ Thượng thư trí sĩ, ông đã tâm sự:

“Bể rộng thuyền con nhẹ mỏng manh

  Ba mươi năm ấy vẹn công danh

  Nếp nhà nay rỏi nền khoa giáp

 Ơn nước chưa đền chút đỉnh đinh”.

Về quê, Tiến sĩ Thượng thư Nguyễn Văn Trình với uy tín và đức độ của mình đã tích cực chấn chỉnh việc làng xã, bài trừ tệ tham nhũng, vận động các nhà hảo tâm chuộc lại công điền cho người nghèo cày cấy, khuếch trương việc học hành. Đặc biệt ông đã vận động nhân dân trong tổng làm đường liên hương nối Quốc lộ IA qua làng Kiệt Thạch đến chợ Vi, cho nên con đường này dân địa phương đã gọi là đường cụ Thượng, cống cụ Thượng mà ngày nay đang phát huy tác dụng. Sau đó ông đã vận động xây dựng trường học cho tổng Đậu Liêu tại làng Kiệt Thạch, xây dựng Văn chỉ huyện ở làng Phù Lưu khắc bia tên các vị đỗ đạt đại khoa,…

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông đã sôi nổi tham gia trong các cuộc biểu tình, mít tinh quần chúng, tham gia Hội Phụ lão kháng chiến, sáng tác thơ ca hò vè ủng hộ kháng chiến,…Năm 1946, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh và là uỷ viên Khu hội Liên khu IV, tích cực vận động nhân dân xây dựng hậu phương vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân để kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuối năm 1948 do tuổi cao sức yếu và lại quá tích cực tham gia phong trào cách mạng, ông Nguyễn Văn Trình đã bị cảm bệnh yếu dần và đầu năm 1949 ông mất, thọ 77 tuổi. Ông mất đã để lại niềm thương tiếc vô hạn cho gia đình, nhân dân địa phương và các tổ chức đoàn thể cách mạng lúc bấy giờ.

Có thể nói rằng cuộc đời và sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình là một tấm gương sáng về nhiều mặt, khổ học lập thân, thanh cần trung thực, một ông quan thanh liêm luôn luôn gần gũi và bênh vực quyền lợi cho nhân dân lao động và rất tận trung tận hiếu với nước nhà và quê hương. Ngoài ra ông còn là một nhà thơ với hàng trăm bài, phần nhiều là thơ Nôm và là dịch giả có tiếng với bản dịch bài Đăng Lam thành sơn hoài cổ phú (của Đặng Nguyên Cẩn) là bài văn phỏng dịch rất hay được nhiều người truyền tụng cho đến bây giờ. Sau khi ông mất, con cháu dòng họ đã xây dựng Đền thờ Ông. Đền là ngôi nhà xây bằng gạch 1 gian, 2 hồi. Mặt trước có 2 đôi câu đối bằng chữ Hán, nội dung:

  • “Lễ thi đình huấn thiên thu tại

    Trung hiếu gia thanh vạn cổ truyền”

Tạm dịch: Thi lễ nếp nhà nghìn thu tồn tại

                  Hiếu trung đạo học, muôn thuở nối truyền.

  • “Hoa hương bất cập thư hương viễn

    Thế vị vô như đạo vị trường”

Tạm dịch: Hương hoa không bằng rộng hương sách

                  Mùi đời khó sánh với mùi đạo.

Trong đền thờ hiện nay có tấm biển chữ Hán khắc bằng đá cẩm thạch đề 4 chữ “Cao Sơn ngưỡng chí”, là hiện vật lịch sử rất có giá trị.

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Liên kết website
    Thống kê: 1.228.071
    Online: 68