Bình chọn
Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử huyện Can Lộc
82 người đã bình chọn

Những đặc điểm về tự nhiên nói ở phần trên đều trực tiếp chi phối tiến trình hoạt động kinh tế, văn hóa của huyện.

Can Lộc có rừng, có biển và đồng bằng, những yếu tố thuận lợi để phát triển sản xxuất hàng hóa và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thon theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

I – VỀ NÔNG NGHIỆP

Cũng như nhiều huyện khác trong tỉnh, ruộng đất huyện Can Lộc không màu mỡ như ở các huyện thuộc vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửa Long, nhưng với kỹ năng kinh nghiệm  từng trải trên các mặt sử dụng, khai thác, bảo vệ nuôi dưỡng nó, cùng với tầm nhìn thoáng mở hiện nay, đó là nguồn vốn hết sức quý giá.

Những loại cây lương thực đã trồng trên vùng đất này theo từng mốc thời gian, số liệu lịch sử cho biết như sau:

 

Cây lương thực

1925(1)

1955

1975

1995

Diện tích lúa (ha)

Sản lượng lúa (tấn)

Diện tích khoai (ha)

Diện tích ngô (ha)

Diện tích sắn

Diện tích lạc

17.300ha

22.700 tấn

400 ha

18.756 ha

31.822 tấn

1.554 ha

 

 

212

20.113 ha

36.785 tấn

1.395 ha

 

 

392

19.249 ha

64.325 tấn

1.720 ha

208 ha

280 ha

650 ha

Với tổng diện tích tự nhiên 37.300 ha, diện tích đang bố trí vào sản xuất nông, lâm nghiệp là 19.875 ha, bằng 53,28%; đất chưa sử dụng là 12.385 ha, bằng 33,25 đất tự nhiên(1).

Trong số đất trồng cây hàng  năm là 12.931 ha thì 11.389 ha bằng 88% đất trồng cây dành cho trồng lúa.

Trong những năm gần đây, diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu (tính bằng ha) như sau:

Diện tích cây trồng

1991

1992

1993

1994

1995

- Lúa cả năm

- Khoai lang

- Sắn

- Ngô

- Lạc

- Mía

19.661

2.599

200

 

436

56

18.503

3.031

182

 

436

55

18.525

2.710

280

 

547

47

18.852

2.708

276

124

597

71

19.249

1.720

280

208

650

70

Cây lúa phát triển ổn định cả về diện tích và năng suất, đặc biệt trong các năm 1993 và 1994, sản lượng lúa tưng vọt từ 38.24 ngàn tấn năm 1991 lên gần 60 ngàn tấn năm 1994.

Khoai lang và cây màu lương thực khá lớn sau cây lúa, năng suất hiện vẫn ổn định khoảng 50 tạ/ha. Sản phẩm trước đây chủ yếu làm lương thực cho người.

Từ năm 1993 lại nay, hướng sử dụng màu trong đó có khoai lang đã có sự thay đổi, phần lớn dành cho chăn nuôi gia súc. Nếu duy trì diện tích khoai trên thì vấn đề chế biến đặt ra cấp bách.

Các loại cây khác diện tích còn ít, do những nguyên nhân tập quán và kỹ thuật khác nhau, năng suất lạc chưa thật ổn định. Mía có khả năng phát triển nhưng khá nhiều vướng mắc về thu hoạch, giá cả… chưa được tháo gỡ hợp lý… Ngô đông và ngô xuân có triển vọng mở ra, qua các thử nghiệm đã cho những kết quả rất đáng quan tâm.

Chuyển một bộ phận diện tích khoai, sắn hiện năng suất đang thấp sang trồng ngô là hướng đi phù hợp.

Nguồn kinh tế vườn ở Can Lộc chưa được khơi dậy đúng tầm quan trọng của nó. Diện tích đất vườn của Can Lộc hiện nay là 1.455,22 ha, được phân bố tại nhiều vùng khác nhau, không ít những mô hình tốt về vườn, VAC và VACR chưa được khảo sát, tổng kết để nhân rộng ra. “Nhất mậu trạch, bách mậu điền”. Một mẫu vườn hơn mười mẫu ruộng, là một tổng kết chhung cho nhiều nơi, đối với huyện này, nhất là ở vùng bán sơn địa Trà sơn, Hồng Lĩnh và vùng đồng bằng ven biển đất cát hạ Can, câu nói này của ông cha ta xưa còn có ý  nghĩa thiết thân.

* Về chăn nuôi

Cũng theo mốc thời gian như phần trồng trọt ở trên, số liệu lịch sử về chăn nuôi như sau:

Vật nuôi

1925

1955

1975

1995

- Trâu (con)

- Bò

- Lợn

 

8.700(1)

8.115

11.952

19.930

11.891

6.595

31.056

11.735

11.940

43.800

Theo số liệu trên phản ánh chăn nuôi huyện này vẫn mang tính tập quán truyền thống, nằm tròn phạm vi tận dụng sản phẩm, phế phẩm và mục đích chăn nuôi là để phục vụ cho cày bừa gieo trỉa mà thôi.

- Do mục đích chăn nuôi như vậy nên hình thức chăn nuôi trâu bò là phân tán trong các hộ gia đình. Chỗ chăn thả chủ yếu ở các bãi tự nhiên hoặc ven đường giao thông. Ở vùng đồi Trà sơn, Hồng Lĩnh một số hộ có chăn nuôi bò đàn với mục đích làm hàng thương phẩm, cũng vẫn chăn thả tự nhiên trên các bãi đất công.

Giống bò chăn nuôi là giống bò địa phương, thường gọi giống bò “cóc”, tầm vóc nhỏ bé, khả năng sinh sản kém và tỷ lệ thịt rất thấp.

Trong năm 1994, đàn trâu bò giảm mạnh từ 14.075 con xuống 11.130 con. Lý do chính là bắt đầu thực hiện gieo đất và bãi chăn thả cho các hộ gia đình được sử dụng lâu dài, đàn trâu bò mất bãi chăn thả tự nhiên. Chăn thả theo hướng thâm canh là hướng đi bắt buộc. Vì vậy cần có những mô hình thích hợp để sớm hướng dẫn đi theo hướng này, có thể đón nhận những chương trình của sin hóa đàn bò mà tỉnh ta đã bắt đầu thực hiện.

- Đàn lợn bình quân hàng năm có khoảng 42 ngàn con. Năm 1993, năm cao nhất có 43.900 con. Quy mô đàn nái bình quân hàng năm trên 5.000 con, huyện không những tự túc được giống lợn để chăn nuôi lấy thịt mà còn có thể đủ xuất một số lợn con giống ra ngoài nội địa huyện.

Lợn chăn nuôi chủ yếu hiện nay là giống lai giữa Đại bạch và Móng cái nên trọng lượng xuất chuồng bình quân đã có tăng lên.

Hình thức chăn nuôi lợn vẫn là phân tán trong các hộ gia đình. Thông thường mỗi hộ gia đình có từ một đến hai con. Bình quân mỗi hộ  hiện nay là 1,08 con lợn. Nguồn thức  ăn là phế, phụ phẩm, trồng trọt và thức ăn gia đình tự túc, từng gia đình lo cả việc phòng trừ dịch bệnh.

Với phương thức chăn nuôi như trên, tiềm năng quy mô đàn lợn của huyện còn rất lớn. Khi đã giải quyết đủ lương thực trên địa bàn, đã có một phần thóc hàng hóa, việc khai thác tiềm năng phát triển quy mô đàn lợn tùy thuộc phần lớn vào tổ chức tiêu thụ và chế biến sản phẩm thịt trên quy mô toàn huyện và xuất ra ngoài huyện.

Trong huyện, đã có đàn hươu trên 40 con và đàn dê trên 180 con. Đây là hình thức chăn nuôi gia súc đặc sản rất cần được khuyến khích. Trước mắt thị trường giá cả có những biến động chưa thật ổn định, duy trì và tiếp tục phát triển được chúng, còn phải giỏi ở khâu giải quyết tốt đầu ra.

Nghề ấp trứng, nuôi vịt đàn là thế mạnh nổi trội của huyện. Các xã  Khánh - Trung - Vượng - Vịnh - Song - Tiến… là những xã nuôi vịt đàn có truyền thóng. Thôn Quần Ngọc xã Khánh Lộc là quê gốc của nghề ấp vịt từ thời  Gia Long lại nay(1).

II – VỀ LÂM NGHIỆP

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 12.022 ha. Được bố trí sử dụng như sau:

- Đất lâm nghiệp có rừng: 5.264 ha, trong đó: rừng tự nhiên 2.600ha và rừng trồng 2.264 ha

- Đất hoang đồi núi: 6.656 ha

- Núi đá: 102 ha

Thực trạng các loại rừng sản xuất thì rừng giàu không còn bao nhiêu, chỉ còn một ít tập trung ở vùng Trà Sơn và trữ lượng gỗ ở đây cũng không đáng kể. Phần lớn diện tích rừng là rừng nghèo, rừng phục hồi và hỗn giao.

Hướng khai thác tài nguyên rừng hiện nay chủ yếu là góp phần làm chất đốt cho dân cư và một ít gỗ dân dụng.

Việc nghiên cứu chương trình giải quyết chất đốt cho dân cư là biện pháp cơ bản hỗ trợ quan trọng, có hiệu lực góp phần bảo vệ rừng, phát triển nông nghiệp hiện nay. Phải quyết liệt thực hiện bằng được chương trình giao đất giao rừng và đất đồi cho hộ gia đình là nhiệm vụ cấp bách trong sự nghiệp bảo vệ rừng.

Đất lâm nghiệp tập trung ở hai vùng núi Hồng Lĩnh và Trà sơn.

- Ở Hồng Lĩnh, tầng cao đất xấu, hướng chủ yếu khoanh nuôi tạo thêm thực vật, tầng thấp tập trung trồng cây loại cây phát tán để giữ độ ẩm cho các hồ chứa nước và tạo cảnh quan môi trường cho cả vùng này.

- Ở Trà Sơn, hướng phát triển lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở đó bằng cả hai hướng: Khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng:

Trong những năm tới sẽ lần lượt xây dựng các nhà máy chế biến gỗ, chế biến nhựa thông tại vùng Bãi Vọt. Việc cung cấp những khối lượng lớn về nguyên liệu gỗ, nguyên liệu nhựa phải được đặt ra ngay từ bây giờ.

Việc tổng kết rút ra những bài học về thực hiện dự án PAm là rất cần thiết. Trong những năm trước mắt coi trọng việc trồng cây lâm nghiệp, phân tán để nhanh chóng tái sinh vốn rừng, đây vừa nhằm phát triển kinh tế rừng vừa cải tạo môi trường sinh thái. Trên núi Hồng Lĩnh, có những vũng trũng, ngậm những khối nước ngầm khá lớn. Phía nam Hồng Lĩnh được che chắn gió mùa đông bắc. Đó là những thuận lợi để phát triển cây trồng mái núi phía này.

III – VỀ THỦY, HẢI SẢN

Ở Can Lộc vẫn có hai nghề: Đánh cá biển và nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước ngọt.

Về nghề biển: Huyện chỉ có một xã Thịnh Lộc là bãi ngang có một số hộ nông nghiệp làm thêm nghề đánh cá biển.

Ngoài ra, cũng còn có một số hộ ở làng Phan thuộc xã Ích Hậu có thuyền câu loại nhỏ, thường theo sông Nghèn ra Cửa Sót hành nghề ở biển.

Cũng cần thấy hết cái thế mạnh của vùng biển này. Nằm trong vùng biển phát sinh phát tán các loại sinh vật nó có các luồng cá giao thoa từ bắc vào và từ nam ra. Bờ biển dài, đáy biển có lớp bùn mỏng thuận tiện thả các loại lưới quét. Chế độ thủy triều lên xuống ổn định. Nhiệt độ nước biển trên bề mặt cũng gần như dưới đáy. Mùa đông cũng như mùa hè, nhiệt độ trung bình từ 21 đến 23oC, không chênh lệch mấy trong suốt cả năm. Độ mặn từ 3,4 đến 3,5%, thích ứng với nhiều loại vi sinh vật biển. Dòng chảy sông Cả và sông Sót khi đi qua hai cửa đổ nước ra biển, ngòi lạch đều chảy quặt theo hình cần câu, một theo hướng đông nam, một theo hướng đông bắc, gần như giao nhau tại vùng biển này. Dòng chảy ấy ngoài nguồn nước lợ, chúng còn bổ sung cho đáy biển vùng này một ít phù sa và các loại phù du sinh vật, thuận lợi cho môi trường hội tụ, phát triển các loại cá, tôm.

Chính vì vậy, theo từng mùa vụ khác nhau, các đàn cá thường xuất hiện trên vùng biển khá dày đặc. Cá rọc, cá trích, cá quận, cá bạc má… Đặc biệt các loại cá ve nhỏ, cá cơm nhỏ và tép biển (ruốc), đến mùa, chúng thường áp bờ từng đàn lớn, phát hiện ra chúng tập trung mọi phương tiện., lực lượng bủa vây và đánh bắt đúng hướng và kịp thời, thường thu hoạch khá lớn.

Sau năm mươi năm đến sáu mươi năm, qua hai cuộc kháng chiến các dòng chảy lưu vực này, mặt nọ, mặt kia đã có những đổi thay. Tổ quốc lực lượng khai thác đánh bắt cũng đã có những mặt khác trước. Nhưng về cơ bản, thuận lợi của vùng biển này vẫn là hứa hẹn.

Ngày nay trong lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, đã có những kỹ thuật, phương tiện máy móc ngày càng hiện đại. Vấn đề hiện tại là cách tổ chức lực lượng, khởi nguồn đầu tư, giải quyết đầu vào, đầu ra ra sao, đòi hỏi có những mô hình và chỉ đạo nhạy bén.

Về nuôi trồng thủy sản, hiện tại cả huyện có trên 4.000 ao cá với diện tích mặt nước khoảng 60 ha. Các ao hồ này bố trí xen kẽ trong các khu dân cư, do gia đình quản lý và nuôi thả tự nhiên hoặc kết hợp nuôi cá với thả các loại rau xanh làm thức ăn cho lợn nuôi gia đình.

Toàn huyện có 12 hồ nước, trong đó có 2 hồ lớn có khả năng nuôi cá nước ngọt, vẫn chưa có phương án khai thác. Dọc hai bờ sông Nghèn xây dựng khoanh nuôi tôm, khoanh nuôi thủy hải sản có khả năng dồi dào. Vốn liếng tổ chức ra sao đó là những vấn đề đang đặt ra.

*
*    *

 Khai thác các tiềm năng trên đây phải có cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tương ứng.

Ở đây, chỉ ghi đôi nét về giao thông và thủy lợi.

Trước hết là thủy lợi: Can Lộc đã có hệ thống các công trình được xây dựng qua nhiều năm.

- Đại thủy nông có trạm bơm Linh Cảm.

- Trung thủy nông có các công trình Khe Lang, đập Nhà Đờng, đập Cù Lây – Trường Lão, đập Vực Trống.

- Tiểu thủy nông có gần 70 công trình.

Những năm gần đây, dốc sức làm xong công trình hồ chứa Cửa Thờ - Trại Tiểu với vốn đầu tư trên 5 tỷ đồng và huyện đang tập trung hoàn chỉnh đập Khe Hao. Trong số công trình thủy nông ngăn mặn - giữ ngọt còn có cống Đông Huề, làm từ trước Cách mạng tháng 8 (1942), đến nay đang phát huy tác dụng tốt.

Các hệ thống thủy lợi của huyện đã giải quyết được trên 80% nhu cầu nước tưới. Nhưng do tính khắc nghiệt của khí hậu, tính phức tạp của địa hình nên có một số vấn đề đặt ra cho thủy lợi vẫn chưa hoàn toàn chủ động giải quyết được. Yêu cầu tiêu nước cũng khá quan trọng nhưng chưa nơi nào giải quyết được. Một số công trình thủy lợi xây dựng đã lâu, hiện tại xuống cấp cần được sửa chữa nâng cấp. Một số công trình xây dựng gần đây do khảo sát và tính toán chưa kỹ nên chưa được khai thác đầy đủ. Đó là những vấn đề phải được nghiên cứu chín chắn để có những phương án giải quyết vấn đề thủy lợi huyện này một cách tối ưu.

* Thứ hai, giao thông

Do những đặc điểm kiến tạo tự nhiên, Can Lộc có hệ thống giao thông thủy bộ khá chằng chịt và phân bố khá hợp lý.

1. Hệ thống đường bộ

- Đường quốc lộ:

+ Tuyến quốc lộ 1A qua giữa huyện dài 12 km. Đây là trục giao thông chính Bắc - Nam.

+ Quốc lộ 15: chạy dọc Trà sơn nối quốc lộ 8 với tỉnh lộ 3 tại Khe Giao. Phần đường qua Can Lộc dài 18 km.

+ Tuyến đường 70 và đường 58 là các tuyến đường quốc phòng. Đường 70 nằm phía sau dãy Trà sơn chạy từ Đức Thọ ven hồ Khe Lang,Vực Trống, Cửa Thờ, Trại Tiểu nối đường 71 Hương Khê. Đây là tuyến đường chiến lược vận chuyển hàng hóa. Đường hành quân của bộ đội ta vào chiến trường trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Đường 58 nối trục đường I chạy dọc ven núi Hồng Lĩnh nối với bờ biển xã Thịnh Lộc dài 20 km. Đây là tuyến chủ yếu tăng cường hệ thống phòng thủ ven biển.

- Hệ thống đường tỉnh lộ:

+ Tỉnh lộ 2 dài 12 km, nối ngã ba Ba Giang (Thạch Hà) với ngã ba Đồng Lộc (đường 15) phần đi qua địa phận Can Lộc dài 7 km. Tuyến đường này đang là đường cấp phối.

+ Tỉnh lộ 6: Dài 8 km, nối ngã ba Khiêm Ích với ngã ba Nghèn dài 8,5km. Tuyến này đã được thấm mặt nhựa.

+ Tỉnh lộ 7: Dài 12 km, nối ngã ba Bắc Nghèn với đường 22-12. Tuyến này mới rải nhựa được 5 km, hiện đang là đường cấp phối.

+Tỉnh lộ 22-12: Chạy dọc ven biển. Phần đi qua Can Lộc dài 9km. Tuyến này đã được láng nhựa. Đây là tuyến quan trọng cả về quốc phòng, kinh tế, xã hội cho vùng hạ Can.

+ Tỉnh lộ 12 là tuyến đường chợ Đình – quán Trại, dài 10,7 km nối tỉnh lộ 6 với đường 15. Tuyến này hiện đang thi công.

- Hệ thống đường liên xã, đường xã.

+ Đường liên xã: Toàn huyện có 31 tuyến đường liên xã với tổng chiều dài 129 km, nối các xã các vùng với nhau. Các tuyến đường này hầu hết đang là đường cấp phối.

+ Đường xã: Tổng các đường trục chính các xã dài 230 km đều đã được rải sỏi cấp phối, vì vậy không bị lầy lội trong mùa mưa như thời trước.

- Tuyến trục chính của huyện: Có hai trục đường chính của huyện.

+ Tuyến thị trấn Nghèn - Sơn Lộc: Dài 7,4kn. Tuyến này đã được làm mặt nhựa 5,5 km.

+ Tuyến Tùng Lộc - An  Lộc dài 6km, hiện đang là đường cấp phối.

Tổng số cầu cống trên địa bàn.

Chỉ tính tuyến trục huyện, xã có 184 cầu cống các loại; trong đó có một số cầu lớn từ 8 đến 12 mét; cầu Văn Đinh, cầu Yên Đồng, cầu Làng Rọng, cầu Rọc Cẩn, cầu Trung Vinh, cầu xóm 8, cầu Cài, cầu Cửa Trại, cầu Khe Thờ, cầu Kênh, cầu Kiệt, cầu Ngạo…

Riêng xã Vượng Lộc có cả thảy 13 cầu vào xã có chiều dài từ 25 mét đến 80 mét. Đây là xã duy nhất ô tô vào đang khó khăn.

2. Về đường thủy

Can Lộc có hệ thống sông Nghèn bắt đầu từ Trung Lương đổ nước ra Cửa Sót, có độ dài 37km. Đây là hệ thống giao thông đường thủy chính. Tàu thuyền có sức chở 20 đến 25 tấn hoạt động thường xuyên trên tuyến đường thủy này. Riêng đoạn từ cầu Nghèn ra biển loại tàu thuyền có sức chở 150 tấn trở xuống hoạt động tốt.

Hệ thống kênh Nhà Lê bắt nguồn từ kênh 19-5 (Đức Thọ) đi qua các xã Kim - Song - Trường - Yên -  Vịnh - Khánh - Vượng dài trên 10 km, thuận tiện cho vận tải nhỏ hoạt động.

Hệ thống sông Ba Nái, sông Dà bắt nguồn từ vùng Thạch Minh (Thạch Hà) và một nhánh bắt nguồn từ vùng thượng Xuân Lộc.

Khi chưa có đập ngăn mặn sông Dà thì thuyến này khá thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa về các xã Xuân – Quang – Sơn Lộc và vùng Bắc Hà.

Hệ thống sông Yến Giang; từ Tân Lộc xuống Thụ Lộc, Hậu Lộc qua cầu Trù.

IV – CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG VÀ THỦ CÔNG NGHIỆP

Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1995 của Can Lộc đạt 9.800 triệu, nhích hơn chút ít so với những năm trước đó.

Nhìn về sắp tới, nền công nghiệp Can Lộc đang chứa đựng tiềm lực đáng mừng.

Là vùng đất nằm trong vùng quần thể địa chất với địa hình đá trầm tích biến chất và đá mác-ma a-xít, qua những bước thăm gò chưa thật đầy đủ, Can Lộc có hai vùng mỏ sắt măng-gan: mỏ sắt Chân Tiên ở xã Thịnh Lộc và mỏ sắt núi Bụt xã Phú Lộc.

Mỏ sắt Chân Tiên liền khoảnh với mỏ sắt Động Kèn thuộc thôn Song Nam xã Cương Gián – Nghi Xuân. Khu mỏ phân bố trên chiều dài 7.500m, dày 2,5m, trữ lượng sơ bộ xác định đạt C1: 48 vạn tấn quặng. Từ năm 1934, một vài nhà tư bản thầu khoán cơ sở ở Vinh(1) đã đứng ra trưng thầu khai mỏ lấy quặng dưới dạng sắt măng-gan (Ferro-manganèse) bán cho người Nhật chở thẳng quặng về Nhật bằng tàu biển. Từ một vùng “Cảnh Bụt, cảnh tiên” trầm lặng, năm bảy năm đào mỏ, không khí công nghiệp được khơi dậy, sôi động hẳn lên bắt đầu đã có hình ảnh đơn sơ của một “thị trấn nhỏ”. Nhưng rồi, năm 1939 thế chiến nổ ra, trên biển, các tàu biển Nhật bị phong tỏa dữ dội, công việc đình  đốn, mỏ Chân Tiên phải đóng cửa.

Mỏ Phúc Lộc mới ở bước thăm dò: dài khoảng trên 1.000 mét, trữ lượng khoảng 6,2 vạn tấn. Trong tương lại, khi mỏ sắt Thạch Khê được khai thác, các mỏ “phụ điểm” này hẳn sẽ nằm trong toàn bộ quy hoạch khai thác quặng sắt của tỉnh ta.

Theo tài liệu khảo sát, Can Lộc còn có mỏ cao lanh với trữ lượng đáng kể, chất lượng chưa cao, nhưng có thể dùng sản xuất các loại gốm sứ hiện đang rất cần, kể cả một số mặt hàng gốm sứ cao cấp.

Hiện tại, Can Lộc là một trong những huyện có khá dồi dào trữ lượng đá hoa cương và các loại cát sỏi dùng trong xây dựng. Về phượng diện nhu cầu xây dựng, đá ong ở Nga Lộc và một vài xã khác cũng là hàng có giá.

Năm 1995, khai thác đá 18,000m3

Cát sỏi 45.850 m3

Gạch ngói cũng là một thế mạnh. Năm 1995 sản xuất được ngói các loại 312 ngàn viên; gạch các loại 1.090 ngàn viên.

Về nghề thủ công: Để phục vụ các yêu cầu các mặt sản xuất vừa để có đồng ra đồng vào, bổ sung thu nhập trong những ngày nông nhàn, ở Can Lộc, các nghề thủ công trong từng hộ gia đình hoặc trong từng phường khác nhau đã phát sinh, phát triển khá sớm. Hoạt động này gắn chặt với sản xuất nông nghiệp, phục vụ nông nghiệp.

Phần văn hóa dân gian sẽ nói kỹ hơn. Ở đây chỉ đề cập một vài nghề tiêu biểu ở từng vùng khác nhau.

* Nghề đúc lưỡi cày ở Vĩnh Hòa.

Nói đúc lưỡi cày là nói gộp, thực ra đúc cả hai bộ phận lưỡi cày và diệp cày, thường đường quy định tỷ lệ 10 lưỡi thì một diệp. Bởi diệp lâu hỏng, đúc tỷ lệ 1/10 là vừa.

- Đúc hỗn hợp gang với sắt với tỷ lệ thông thường 2/3 gang, 1/3 sắt.

- Đúc bằng khuôn đất sét. Về sau, đúc bằng khuôn sang.

Đất sét có màu đen này chỉ có ở bãi Sác vùng Voi nay  thuộc xã Kỳ Tiến. Bố trí khai thác mua và vận vận chuyển gần 100 cây số. Phải dùng cối bằng gỗ táu và chày cũng bằng gỗ táu, dài hai thước đời trước, cho đất sét vào cối, hai người hai chày giã liên tục theo quy cách giã thịt gói giò. Dùng bột tro đốt toàn tính, khi sét đã nhuyễn cho bột tro vào, thêm nước vừa phải, giã đi giã lại cho nhuyễn thêm. Kiểm tra lần cuối, thấy được mới mang ra đúc khuôn. Trong lòng khuôn có cái “luộn” để tạo dáng mặt của lưỡi cày.

           Em về đâm (giã) đất vắt khuôn

Anh vắt cho cái “luộn” để đi buôn với phường.

Luộn là cái sườn bằng gang, ngoài bọc kín bằng đất sét.

Than đốt lò phải là than lim, mua ở chợ Gát, chợ Đồn Điền.

Hàng năm chỉ làm nghề có 6 tháng, tháng 3 đến tháng 6 là tháng cao điểm, sản xuất cho đủ và đem bán cho kịp trong thời gian đò. Nghề cũng theo thời vụ.

Trong phường có 10 lò, mỗi lò phải đúc 150 cái cả lưỡi và diệp mỗi ngày theo tỷ lệ đã định. Như vậy, một lò trong một mùa (6 tháng) sản xuất ra 27 nghìn lưỡi diệp.

Vì là nông cụ thông dụng, số lượng tiêu thụ tại chỗ cũng đã khá lớn. Ngoài ra, một phần người trong phường phân chia nhau gánh bộ đi bán ra ngoài huyện, ngoài tỉnh, một phần khác có một bộ phận người nhận bán buôn giúp phường. Số lưỡi diệp sản xuất ở phường này được mang bán khá rộng: ra Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên lên Hương Sơn, Hương Khê vào đến Quảng Bình; một số vào đến Quảng Trị. Phương tiện vận chuyển là đôi bồ đan bằng nứa, có mẹt đậy cẩn thận, dùng dây thừng xâu hẳn vào lưng bồ thay chức năng gióng. Đòn gánh là đòn ống bằng đoạn nguyên cây nứa loại lớn. Làm ăn khá vất vả nhưng khá phát đạt.

           Chợ đây than đắt sắt cao,

Sét làm khuôn cũng hiếm phải mò vào tận Voi.

(Có người đọc: Sét làm khuôn cũng hiếm phải chạy “tam tao tứ kỳ”). Tiến trình làm ăn, người ta đã rút ra những chuẩn mực. ví dụ:

Người giỏi nghề phải:

- Đổ một mẻ gang được 20 đến 25 cái

(Người làm kém, một mẻ chỉ đổ được 10 đến 12 cái)

- Tỷ lệ hư hỏng cho phéo 10 cái hỏng 1 đến 2 cái.

- Đúc càng mỏng càng tốt. Lưỡi phải sắc góc sắc cạnh.

Lưỡi sắc cạnh, sắc rãnh: Cày nhẹ, lâu mòn, mang đi bán cũng nhẹ. Một cái nặng cho phép tối đa là 5 lạng, đúc nhẹ chỉ 4 hoặc 4,5 lạng là giỏi.

Người gánh bộ đôi bồ thường gánh 60 cái là vừa.

Vị thủy tổ nghề đúc này là Nguyễn Cung, con trai của ông Nguyễn Hoành quê gốc Đông Thành. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ông là một võ quan chuyên trách công việc vũ khí tức coi việc đúc rèn khí giới – thời ấy Trịnh có một quân đoàn đóng chốt ở Truông Gió xã Phù Lưu Thượng, ở đây có xưởng rèn đúc vũ khí mà Nguyễn Hoành là người trực tiếp phụ trách và chuyên môn.

Khi quân Nguyễn đã rút vào bên kia sông Gianh, đồn binh này giải thể, ông Hoành được về nghỉ tại quê vợ ở làng Vĩnh Hòa xã Mỹ Lộc, nay là xã Bình Lộc.

Ông tập cho con là Cung nghề đúc. Khi con đã thành thọa mở lò, ông trở về quê gốc. Nguyễn Cung là người thay ông cai quản mọi việc trong xưởng đúc. Từ mối quan hệ huyết thống và quan hệ thông gia dâu rể, nghề được truyền rộng ra trong xóm Môn (cũng có tên xóm Cày) có 5 dòng họ: 3 họ Nguyễn, 2 họ Lê đều có người làm nghề đúc gang.

Sau Cách mạng tháng 8 khi bắt đầu kháng chiến toàn quốc đầu 1947, tỉnh và khu lập các xưởng quân khí. Phường này, một số thợ đúc giỏi được điều đi phục vụ. Ông Nguyễn Đức Dinh có thời gian làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh là một trong những người trưởng thành từ đó.

Năm 1959 mở rộng tăng cường các xưởng cơ khí, tỉnh huyện tiếp tục điều động thêm một số người tại phường đúc này, trong đó có xưởng cơ khí Tự Lực Can Lộc. Cũng từ thời gian ấy công việc cung cấp lưỡi diệp cày cho nông dân chuyển sang chức năng của các cửa hàng mậu dịch và hợp tác xã mua bán.

* Nghề ấp vịt ở Quần Ngọc.

Tên cổ làng này là Kẻ Cồn. Một thời thuộc xã Đông Lâm, nay là xã Khánh Lộc.

Vị tiên công khởi thủy nghề ấp trứng vịt này là Phan Mậu Tùng, thường gọi cố Nghệ. Cụ là cháu nội ông Phan Mậu Thành, một võ quan, chức Quản vệ quân Tả bật, quê gốc ở Phong Điền tỉnh Thừa Thiên. Năm 1802, Gia Long năm đầu, ông được phái ra trấn giữ vùng miền tây Nghệ An, lấy vợ ở làng Quần Ngọc, khi được nghỉ việc, ông nhập cư về quê vợ.

Phan Mậu Tùng là cháu nội của Mậu Thành, nhà sảo khả, say mê nghề nuôi vịt. Nhân có người bạn thân ở Thanh Hóa, ông theo bạn ra Thanh học nghề ấp trứng vịt đến 3 thánh. Khi đã thành tạo, Mậu Tùng tự mình thao tác thực nghiệm vài lò ấp thành công, ông bố trí cho con cháu trong họ phát triển nghề ấp trứng vịt.

Hồi ấy chưa biết dùng trứng vịt lộn, ấp vịt chỉ để lấy giống. Hàng năm vào các tháng 2 và 3 là tháng cao điểm ấp vịt. Phương pháp ấy cũng từng bước có sự cải tiến. Từ ấp bằng cách phơi phân bò khô giã nhỏ, đổ đầy bọc kín, ngoài khoanh bằng cót lúa, trong đó chứa trứng vịt để giữ nhiệt, đến bước dùng thóc rang, sắp lớp trứng lớp thóc để giữ nhiệt, rồi đến dùng trấu rang cũng xếp lớp trứng bằng cách tương tự. Về sau dùng đèn dầu hỏa, mỗi máng ấp khoảng 1 ngàn quả trứng phải dùng đến 3 đèn, ấp cách này dôi lao động và ấp kết quả khá cao.

Dùng đèn dầu hỏa phải biết vặn bấc không có khói. Đèn có khói là trứng bị hỏng ngay.

Thời điểm nghề ấp vịt phát triển đến đỉnh cao là ấp mỗi lứa 12 vạn quả trứng, phải mở nhiều lò ấp, mỗi lò ấp 1.000 quả. Những đợt ấp như vậy ít nhất có 10 người phục dịch. Khi ấp trứng bằng trấu rang nóng, mỗi ngày phải thay trấu 3 lần, khi trứng đã tỏa nhiệt thì giảm xuống 2 lần, giữ bình quân cho trừng có nhiệt độ 28oC, phải dùng đèn soi trứng ít nhất 5 lần.

- Soi ngày thứ 7 xem trứng đã tụ thành con chưa.

- Soi ngày thứ 14, loại ra những trứng không thành con

- Soi ngày thứ 18, loại những trứng con bị chết (quanh trứng không có màng tia máu đỏ)

- Soi ngày thứ 24, con có 2 cánh là tốt

- Soi ngày thứ 28-30, trứng vịt nở.

Ấp trứng vịt lộn thì 18 ngày là phải lấy ra.

Muốn đảm bảo ấp tốt, trước hết phải nghiêm ngặt việc lựa chọn trứng ấp và muốn có trứng đủ tiêu chuẩn là trứng ấp thì lại phải quan tâm đầy đủ trong quá trình vịt đẻ và thu nhặt trứng vịt. Người cẩn thận, mỗi đêm phải nhặt cất trứng 3 lần. Khi đẻ thì vịt kêu và đến 4 giờ sáng là vịt hết đẻ.

Người ấp vịt giỏi, mỗi lò ấp, đảm bảo trứng nở 80%. Trong nghề ấp vịt, một số nười đã trở thành những “chuyên gia” có tiếng. Cụ Phan Mậu Dục, thường gọi cố Nguyên, chuyên làm thầy được liên tục mời ra các vùng ở Nghệ An hướng dẫn nghề ấp vịt. Mỗi mùa đi “hành nghề” 3 tháng, mang về ít nhất 500 quan tiền đồng. Công sứ Môn (Moll) 2 lần mời cụ vào ấp vịt cho nhà Sứ. Bớp (Boeuf), đồn trưởng Can Lộc và Nghi Xuân thường nuôi mỗi mùa 500 con vịt đàn, đều đến mua vịt giống ở Quần Ngọc.

Cụ Nguyên là thế hệ thứ  5 trong dòng họ Phan – trước Cách mạng tháng 8, nghề ấp vịt chỉ đóng khung trong dòng họ. Từ sau Cách mạng tháng 8, nghề được truyền rộng ra qua các mối quan hệ thông gia, nội ngoại.

Năm 1963 nghề này do hợp tác xã quản lý, khoán 1000 quả trứng phải nộp 700 con. Năm 1967, thống nhất, quản lý vào ngành thực phẩm mậu dịch quốc doanh, mức khoán 72% vịt con. Đến 1981, thôi quốc doanh, chuyển sang gia công.

Đến nay ngoài ấp vịt lấy giống, còn có nhu cầu rất lớn là lấy trứng vịt lộn. Cách ấp trứng vịt đến nay cũng đã cải tiến “hiện địa” hơn nhiều.

V – DÂN SỐ VÀ CÁC KHU DÂN CƯ

Qua các nguồn tư liệu hiện có, dân số huyện Can Lộc được phản ánh, tóm lược một số thời kỳ như sau:

Năm
(Trích một số năm cần thiết)

Số đơn vị hành chính cơ sở

Dân số (người)

1925

1930

1942

1948

1970

1975

1995

90

90

96

27

32

32

31

55.500(1)

58.906(2)

58.906(3)

81.800(4)

117.100(5)

131.048(6)

175.996(7)

Tháng 8-1945, trong ngày khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, toàn huyện vẫn có 96 xã thôn. Sau Cách mạng tháng 8, qua nhiều lần hợp tác xã, chia tách xã, đến năm 1954, Can Lộc có 32 xã.

Năm 1984, thành lập thị trấn Can Lộc do Quyết định số 14 ngày 27-10-1984 của Bộ trưởng. Từ năm 1976-1991 huyện có 32 xã và 1 thị trấn. Năm 1992, khi thành lập thị xã Hồng Lĩnh, Can Lộc cắt 2 xã Đậu Liêu và Thuận Lộc chuyển sang thị xã Hồng Lĩnh. Từ đó, huyện Can Lộc chỉ còn 31 đơn vị hành chính cơ sở trong đó có 1 thị trấn với 37,302 ha đất tự nhiên (1).

Trong các vùng kinh tế, dân cư ở đây thưa không đồng đều. Vùng bán sơn địa dân cư thưa hơn đồng bằng (2).

Vùng

Số xã

Số dân (người)

Đất tự nhiên (km2)

Mật độ người/km2)

- Trà sơn

- Hồng Lĩnh

- Đồng bằng ruộng trũng nằm giữa huyện

- Đồng bằng ven biển

7

6


12

5

36.662

33.838


56.384

4.216

136,2

113,840


80,82

42,116

269,2

297,2


697,7

659,9

Qua các năm gần đây, dân số tăng tự nhiên và tỷ lệ phát triển dân số qua các năm như sau:

Năm

Dân số
trung bình (người)

Tỷ lệ tăng
tự nhiên
(%)

Tỷ lệ phát triển dân số
(%)

1991

1992

1993

1994

1995

181.367

173.829

175.516

176.356

175.966

 

24,39

23,56

20,57

18,68

 

2,2

 

 

1,9

Xây dựng các khu dân cư, cũng vừa là khu trung tâm về kinh tế - văn hóa – thương mại của mỗi vùng trong huyện.

Từ nhiều năm tác động, trong huyện thực tế đã hình thành rõ rệt 4 khu vực dân cư, tiêu biểu vùng trọng điểm của mỗi vùng.

Trước hết là thị trấn Nghèn. Đây vừa là thị trấn cũng vừa là huyện lỵ, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa khoa học – kỹ thuật và dịch vụ du lịch trong huyện.

Thị trấn đã được hình thành trong nhiều năm nay, nhưng trong quá trình xây dựng và phát triển quy hoạch thị trấn chẳng những chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - dân sinh đô thị trên địa bàn thị trấn cũng như những vùng ven đô, mà còn gây nên những phức tạp khác.

Để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội huyện Can Lộc giai đoạn từ nay đến năm 2010, đưa Can Lộc có nền kinh tế đa dạng công - nông nghiệp phát triển, đời sống văn hóa - xã hội được nâng cao, một trong những việc phải làm là điều chỉnh, mở rộng quy hoạch chung thị trấn Nghèn, đảm bảo diện tích đó trên 1000 ha, dân số khoảng 11 ngàn người. Như vậy cần tiến hành hợp thị trấn Can Lộc với xã Đại Lộc thành một đơn vị có quy mô lớn; Thị trấn Nghèn.

Ba khu dân cư khác được gắn với nền kinh tế văn hóa - thương mại - du lịch từng vùng, phát huy đầy đủ tiềm lực và bản sắc văn hóa truyền thống vốn có của chúng, coi đó là những trung tâm từng vùng trong tổng thể chung - trung tâm Nghèn - huyện lỵ Can Lộc.

- Khu vực chợ Đồn (Khiêm Ích – Tổng Đoài, tổng Nga cũ)

- Khu vực chợ Tổng (Tổng Lai, Tổng Đậu cũ)

- Khu vực chợ Huyện hạ Can, (Tổng Phù, Tổng Nội, Tổng Canh cũ.

 

 

 

(1) Số liệu ở tập tài liệu “Tỉnh Hà Tĩnh” (Laprovince de hatinh) của Bulatô (R.Bulateau) viết 1925 – Bản dịch lưu ở VPUBND tỉnh Hà Tĩnh)

(1) Niên giám thống kê 1991-1995 – Chi cục thống kê Hà Tĩnh.

UBND Can Lộc: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội huyện Can Lộc đến năm 2010 phát hành năm 1995. Từ đây trở đi, các số liệu trong phần I đều sử dụng trong bản chiến lược ấy.

Cục Thống kê Hà Tĩnh – Niên giám thống kê – 19091 – 1995 (Sđd)

  1. Tỉnh Hà Tĩnh – Sách đã dẫn 6.595
  2. Cục Thống kê Hà Tĩnh (S đ d)

(1) Xem phần công nghiệp tiểu thủ công nghiệp.

(1) Chủ thầu mở ở Vinh là Nguyễn Xuân Mỹ và Phúc Thành

(1) Tập tỉnh Hà Tĩnh (La province de Ha Tinh) của Bulatô (Roland Bulateau) viết năm 1925, Bản dịch lưu ở VP UBND tỉnh Hà Tĩnh

(2)  Huyện ủy Can Lộc – Lịch sử Xô viết Can Lộc – XB 1974, trang 6

(3) Lịch sử khái quát của công sứ Môn (Le Moll) lưu ở sở liêm phóng Hà Tĩnh (cũ) Đặng Thị dịch.

(4) Báo cáo 475 ngày 5-7-1948 của UBKCHC Hà Tĩnh. Lưu ở Ban Lịch sử Hà Tĩnh

(5) Chi cục Thống kê Nghệ Tĩnh – số liệu cơ bản 1955-1975

(6) (7) Cục thống kê Hà Tĩnh. Niên giám thống kê 1991-1995.

(1 )(2) Theo chiến lược phát triển kinh tế -xã hội huyện Can Lộc đến năm 2010 và bản tường trình “hiện trạng kinh tế - xã hội huyện Can Lộc” hiện lưu trữ tại Vo UBND huyện Can Lộc.

 Liên kết website
Thống kê: 688.857
Online: 191